Kinh Lân

Học thuật
Thân thiện
Định nghĩa
  1. Danh từ:
    • Tên gọi khác của kinh Xuân Thu: "Kinh Lân" tên gọi khác của bộ sử kinh Xuân Thu do Khổng Tử biên soạn, gắn liền với sự kiện bắt được con kỳ lân.
    • Sự kiện kết thúc biên niên sử: Chỉ việc Khổng Tử ngừng chép sử kinh Xuân Thu sau khi nghe tin người nước Lỗ bắt được một con kỳ lân, coi đó điềm báo "đạo cùng".
dụ sử dụng
  • Danh từ:
    • "Kinh Lân" tức là kinh Xuân Thu, chép đến sự kiện bắt được lân thì dừng. ("Kinh Lân" chính kinh Xuân Thu, chép đến sự kiện bắt được lân thì ngừng lại.)
    • Sự tích "Kinh Lân" thể hiện nỗi bi quan của Khổng Tử trước thời thế. (Tích truyện "Kinh Lân" thể hiện nỗi bi quan của Khổng Tử trước thời cuộc.)
Các cách sử dụng nâng cao
  • "Câu chuyện Kinh Lân": thường dùng để ám chỉ một sự kết thúc đầy tâm trạng, một dấu mốc đáng buồn hoặc sự chấm dứt một sự nghiệp, một học thuyết.
    • Sự nghiệp của ông ấy kết thúc như "câu chuyện Kinh Lân", đầy tiếc nuối. (Sự nghiệp của ông ấy kết thúc như "câu chuyện Kinh Lân", đầy tiếc nuối.)
Biến thể từ liên quan
  • Xuân Thu: Tên chính thức của bộ sử, còn gọi là Kinh Xuân Thu.
  • Kỳ Lân / Lân: Loài vật thần thoại (lân), sự kiện bắt được nguyên nhân khiến Khổng Tử đặt tên Kinh Lân.
  • Nhất tự chi bao / nhất tự chi biếm: (Một chữ khen / một chữ chê) - Phương pháp "bao biếm" (khen chê bằng chữ) nổi tiếng của kinh Xuân Thu.
Từ đồng nghĩa
  • Xuân Thu: Chỉ cùng một bộ sách.
  • Kinh Xuân Thu: Cách gọi trang trọng, đầy đủ.
Thành ngữ / Điển tích liên quan
  • "Ngõ đạo cùng hỹ": (Đạo ta đã cùng rồi) - Câu than của Khổng Tử khi thấy kỳ lân, giải thích lý do ngừng chép sử tinh thần chính của Kinh Lân.
  • "Lân thương đạo cùng": (Lân bị thương, đạo cùng tận) - Điển tích rút ra từ sự kiện này, cho sự suy vi của chính đạo, thánh nhân gặp thời loạn.
  1. Kinh xuân Thu
  2. Theo lời tự sách "XuânThu chính nghĩa" của Khổng Đĩnh Đạt, Khổng Tử soạn kinh Xuân Thu, chép việc nước Lỗ ngụ lờibao biếm. Sự khen chê cốt ngụchữ dùng, chỉ một chữ ngụ ý chê thành tiếng xấu muôn đời, một chữ ngụ ý khen được tiếng thơm thiên cổ. vậy, người đời sau khi bàn kinh Xuân Thu nói: "Nhất tự chi bao vinh ư hoa cổn, nhất tự chi biếm nhục ư phủ việt." (Một chữ khen vinh hơn được chiếc áo cổn hoa vua ban, một chữ chê nhục hơn phải tội búa rìu.)
  3. Kinh Xuân Thu chép sử nước Lỗ từ Lỗ ân Công (721 - 710 trước CN) đến Lỗ Ai Công (494 - 466 trước CN) nhằm mục đích tầm truyền cái đại nghĩa, danh phận về đường luân lý chính trị quân chủ. Văn kinh Xuân Thu nghiêm chỉnh về ý nghĩa vị trí từng chỗ, đến đời Lỗ Ai Công năm thứ 14 (481 trước CN), người nước Lỗ đi săn bắt được con Kỳ lân què chân trước bên trái, ai cũng cho điềm không lành, đem thả ra ngoài đồng. Học trò Nhiễm Hữu báo cho Khổng Tử. Khổng Tử ra đồng xem thấy, trở về than rằng:"Ngõ đạo cùng hỹ." (Đạo ta đã đến lúc cùng rồi). Kinh Xuân Thu chép đến chuyện săn bắt được Kỳ Lân thì Khổng Tử dừng bút không chép nữa nên gọi là Kinh Lân
  4. Xem Khóc Lân

Từ gần giống